Ngocngoctan chào các bạn

Just another WordPress.com weblog

Archive for the ‘1.5.Bản vị tiền tệ’ Category

1.5.Bản vị tiền tệ

Posted by ngocngoctan on 11/03/2010

Tìm hiểu thêm:

Tiền tệ (tiền giấy) chỉ là một loại tem phiếu đặc biệt

Tem phiếu là dạng sơ khai ban đầu của tiền giấy

Tại sao tiền giấy không cần có giá trị thực

Sự khác nhau giữa tiền giấy và các loại tiền khác

Tiền giấy bản vị hàng hóa chung và tiền giấy bất khả hoán 

—————————–

1.5.Bản vị tiền tệ

Khi nói đến chế độ tiền tệ tức là nói đến hệ thống tổ chức lưu thông tiền tệ của một nước do pháp luật quy định, trong đó các nhân tố khác nhau của lưu thông tiền tệ được kết hợp thành một khối thống nhất. Chế độ tiền tệ được cấu thành bởi các yếu tố sau:

-Bản vị tiền tệ: chính là cái được sử dụng làm căn cứ để định giá đồng tiền. Có thể chọn một kim loại nào đó hoặc có thể lấy ngoại tệ hay sức sản xuất trong nước để làm bản vị tiền tệ.

-Đơn vị tiền tệ: mỗi một quốc gia có một đơn vị tiền tệ khác nhau, ví dụ ở Việt Nam là “đông”, ở Mỹ là “dollar”…

-Công cụ lưu thông tiền tệ: là những phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán được sử dụng, chẳng hạn như: tiền giấy, tiền tín dụng, tiền xu…

Trong lịck sưr tiền tệ, kể từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, các nước đã trãi qua nhiều chế độ bản vị tiền tệ khác nhau, cụ thể là:

1.5.1.Chế độ đơn kim bản vị

Là chế độ tiền tệ trong đó chỉ có một kim khí, vàng hoặc bạc, được tự do đúc thành tiền và có khả năng miễn trái vô hạn. Tự do đúc thành tiền nghĩa là mọi người dân có thể biến đổi những thỏi kim khí thành những đồng tiền bằng cách đem đến nơi đúc tiền. Khả năng miễn trái vô hạn, nghĩa là bắt buộc mọi người phải nhận tiền kim khí pháp định, mặc dù số lượng là bao nhiêu. Ở nước nào sử dụng bạc làm bản vị, người ta gọi là đơn kim bản vị bạc, nước nào sử dụng vàng làm bản vị, người ta gọi là đơn kim bản vị vàng.

Lúc đầu các quốc gia dùng bạc làm bản vị trước tiên, bởi lẽ bạc tương đối nhiều hơn vàng. Mặc khác giá vàng tương đối đắt hơn, do đó nếu sử dụng vàng để đúc thành tiền thì quá nhỏ.

Về sau, người ta khám phá ra nhiều mỏ vàng hơn, do vậy có thể đúc vàng thành tiền. Từ đó, việc dùng vàng làm bản vị ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tình trạng này đã dẫn đến hiện tượng các nước dùng cả bạc lẫn vàng làm bản vị tiền tệ.

1.5.2.Chế độ lưỡng kim bản vị

Là chế độ tiền tệ trong đó có hai loại kim khí vàng và bạc được đúc thành tiền và có khả năng miễn trái vô hạn. Có một giá trị pháp định ggiữa giá trị tiền tệ của vàng và bạc.

Ví dụ: trước năm 1914, tại Pháp đã định nghĩa đồng Franc vừa theo vàng vừa theo bạc như sau:

1Franc vàng = 322,5mg vàng chuẩn độ 0,900

1Franc bạc = 5g bạc chuẩn độ 0,900

Như vậy, một Franc bạc nặng gấp 15,5 lần 1 Franc vàng, tức là giá chính thức của 1 gam vàng bằng giá chính thức của 15,5 gam bạc.

Trong thực tế, chế độ lưỡng kim bản vị là nguyên nhân của nhiều sự xáo trộn trong đời sống kinh tế, vì việc sử dụng đồng tiền vàng hay đồng tiền bạc phụ thuộc vào giá vàng hay giá bạc lên xuống trên thị trường.

Ở Mỹ, áp dụng chế độ lưỡng kim bản vị năm 1792, nhưng kể từ năm 1792 đến năm 1834, giá bạc trên thị trường rớt hẳn so với tương quan chính thức là 1 vàng, 15 bạc. Kết quả là đồng tiền vàng biến mất chỉ còn lại những đồng tiền bạc kém giá hơn.

Đầu năm 1848, nhờ sự khám phá được nhiều mỏ vàng ở Calcornia và năm 1851 tại Australia, số lượng vàng được sản xuất gia tăng, vàng dần dần mất giá trong khi bạc lại cao giá hẳn. Đồng tiền bạc dần biến mất trên thị trường.

Một kinh tế gia người Anh ở thế kỷ 17 tên là Gresham đã đưa ra một định luật, được gọi là định luật Gresham. Đinh luật này cho rằng: trong một quốc gia, khi nào hai thứ tiền tệ cùng dược pháp luật chấp nhận theo một giá trị chênh lệch, đồng tiền xấu sẽ dần trục xuất đồng tiền tốt ra khỏi thị trường. Tiền xấu được hiểu là đồng tiền đang mất giá, tiền tốt là tiền đang có giá.

Kể từ năm 1867 trở đi, do bạc được sản xuất nhiều, bạc dần bị mất giá gây nhiều khó khăn cho các nước áp dụng chế độ lưỡng kim bản vị, các nước lần lượt chấm dứt chế độ lưỡng kim bản vị và thiết lập chế độ bản vị vàng (gold stardand). Nước Anh bãi bỏ bản vị bạc năm 1819, Úc 1871, Hà Lan 1875, Áo 1892…

1.5.3.Các chế độ vàng biến thể

Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chỉ còn một im loại qu‎ là vàng làm bản vị tiền tệ. Kể từ đấy tiền giấy trở nên thôg dụng hẳn, chủ yếu là tiền giấy khả hoán, còn đồng tiền vàng ngày càng ít lại. Điều này đã làm cho châu Âu đã đổi kim bản vị vàng nguyên thủy biến thẻ qua một vài hình thái: chế độ bản vị tiền vàng, chế độ bản vị vàng thoi, chế độ bản vị hối đoái vàng.

-Chế độ bản vị tiền vàng: (gold specie stardand) là chế độ trong đó tiền giấy khả hoán được chuyển đổi thành tiền vàng theo định nghĩa chính thức.

-Chế độ bản vị vàng thoi hay hay là chế độ kim định bản vị (gold bullion stardand), theo chế độ này tiền giấy không được tự do đổi ra tiền vàng mà phải có một khối lượng tiền giấy nhất định mới đổi được một thoi vàng. Chế độ bản vị vàng thoi thi hành ở Anh năm 1925, muốn đổi tiền giấy lấy vàng phải đổi ít nhất 1500 bảng Anh, ở Pháp năm 1928 con số tối thiểu này là 225.000 Franc.

-Chế độ bản vị hối đoái vàng hay là chế độ kim hoàn bản vị (gold exchange stardand). Đấy là chế độ trong đó tiền giấy không được đổi trực tiếp ra vàng, muốn chuển đổi ra vàng phải thông qua một đồng tiền trung gian khác. Thông thường đồng tiền trung gian là đồng tiền mình có quan hệ chuyển đổi ra vàng.

Việc từ bỏ chế độ bản vị vàng cũng có nghĩa là các chính phủ thừa nhận quy luật hình thành giá vàng theo cung cầu. Giá vàng ở Việt Nam thay đổi cùng chiều và cùng mức độ với giá vàng thế giới là một hiện tượng bình thường. Cùng với chính sách đổi mới, “mở cửa”, mở rộng giao lưu hang hóa, trong đó có giao lưu vàng, với thế giới bên ngoài, quy luật hình thành giá vàng theo cung-cầu ở Việt Nam đang phát huy tác dụng. Sauk hi hệ thống bản vị vàng sụp đổ, nhiều nước chuyển sang hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý.

1.5.4.Chế độ ngoại tệ bản vị (exchange stardand)

Chế độ ngoại tệ bản vị là chế độ tiền tệ trong đó dơn vị tiền tệ của một nước được định nghĩa theo một ngoại tệ nhất định, thường là ngoại tệ mạnh.

Khác với chế độ bản vị hối đoái vàng, ngoại tệ bản vị không có liên hệ gì với vàng. Ngoại tệ mạnh được dùng làm bản vị có thể không chuyển đổi ra vàng theo một giá cố định như trong bản vị hối đoái vàng. Ở chế độ ngoại tệ bản vị, chỉ có sự liên hệ giữa đơn vị tiền tệ này với đơn vị tiền tệ khác được dùng làm bản vị tiền tệ theo một giá trị chính thức cố định. Đơn vị ngoại tệ mạnh được chọn là để làm phương tiện thanh toán trong các cuộc giao dịch quốc tế.

Những nước theo chế độ ngoại tệ bản vị thường tích lũy số dư ngoại tệ được chọn làm bản vị và‎ gửi có sinh lãi tại ngân hàng trung gian của nước có đơn vị tiền tệ dùng làm bản vị.

Về nguyên tắc, trong chế độ bản vị ngoại tệ, nước ngoài có thể đem tiền quốc gia đó lấy ngoại tệ và ngược lại theo định nghĩa chính thức. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều quốc gia thực hiện chính sách kiểm sóat ngoại hối không thực hiện chính sách này.

Chế độ ngoại tệ bản vị phát triển nhanh và trở nên phổ biến từ khi các nước lần lượt bãi bỏ tiền giấy khả hoán, chuyển sang sử dụng tiền giấy bất khả hoán.

Việc chuyển sang thực hiện chế độ ngoại tệ bản vị đã dẫn đến những sự kiện quan trọng sau:

-Hình thành khuynh hướng sử dụng ngoại tệ thay cho vàng trong các cuộc giao dịch quốc tế.Theo nguyên tắc khi mua hàng hóa của nước nào thì phải dùng tiền của nước đó để thanh toán cho người bán. Như vậy đáng lẽ ngoại tệ nào cũng được coi có công dụng để trả nợ cho chính nước phát hành ra đồng tiền đó. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có một số ngoại tệ đóng vai trò là tìền tệ quốc tế, chẳng hạn như Bảng Anh, Dollar Mỹ…bởi lẽ những ngoại tệ này được các nước ưa chuộng sử dụng.

-Sự xuất hiện các khu vực tiền tệ: Một số ngoại tệ mạnh đóng vai trò lãnh đạo đối với một số đồng tiền khác trên thế giới. Điều này đã dẫn đến hình thành một số khu vực tiền tệ riêng biệt (moneytery zone). Trong lịch sử tiền tệ thế giới có năm khu vực tiền tệ riêng biệt, đó là: khu vực bảng Anh (các nước trong khối liên hiệp Anh, một số nước ngoài liên hiệp Anh như: Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Ỉan, Jordan, Argentina, Thái Lan, Cộng Hòa Ái Nhĩ Lan, một số nước nằm trong vùng biển Baltic). Khu vực Dollar Mỹ (Các nước thuộc ảnh ưởng của Mỹ như Trung Mỹ, Nam Mỹ, những đảo quốc thuôc Thái Bình Dương…). Khu vực thuộc Franc Pháp (Các nước thuộc liêp hiệp Pháp, Algeirie, Guyane, Guadeloupe, Martinique, Togo, Cameroun, Gabon…). Khu vực Escudo (Bồ Đào Nha, các lãnh thổ hải ngoại của Bồ Đào Nha. Khu vực đồng Rouble (Liên xô (cũ) và các nước theo chủ nghĩa xã hội)

*Bản vị dollar: Nền tảng vật chất của đồng dollar là nền kinh tế của Mỹ. Giá trị của dollar được chính phủ Mỹ mà đại diện là ngân hang trung ương Mỹ điều tiết và duy trì ổn định. Trước năm 1971, đồng dollar có bản vị vàng, sau đó tuy dollar không còn được đổi ra vàng theo tỷ lệ cố định nữa nhưng duy trì giá trị của dollar vẫn luôn luôn là một chủ trương hàng đầu của chính phủ Mỹ. Đồng dollar là đồng tiền mạnh, có giá trị ổn định, thuận tiền trong thanh toán quốc tế, do vậy nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Nhiều nước đã gắn đồng tiền nước mình với dollar, còn được coi là theo bản vị dollar, nhất là trước năm 1971, khi đồng dollar có bản vị vàng. Ở Việt Nam, tuy không cố định giá trị đồng tiền của mình với dollar, nhưng tâm lý bản vị dollar cũng khá mạnh, mặc dầu tạo ra một tiêu chuẩn cho giá trị đồng tiền, nhưng nó có những hạn chế sau:

-Đồng dollar cho dù là một đồng tiền mạnh, nó vẫn là một đại lượng biến thiên. Ngoài ra, điều quan trọng hơn là vai trò duy trì sức mua (giá trị) của đồng dollar là thuộc về chính phủ Mỹ mà đại diện là ngân hang trung ương Mỹ chứ không thuộc về chính phủ nước theo bản vị dollar. Do vậy, việc theo đuổi bản vị dollar sẽ bị động và khó bảo đảm cho đồng tiền nước mình được ổn định do vẫn có tình hình vĩ mô thất thường ở Mỹ.

-Thay đổi tỷ giá (giá dollar) là một phương pháp quan trọng nhằm điều tiết tình hình xuất nhập khẩu. Cố định tỷ giá sẽ tước đoạt quyền sử dụng phương pháp này. Việc định giá đồng tiền cao hơn có tác dụng hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu. Ngược lại, việc định giá đồng tiền thấp hơn thì có tác dụng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Ở Việt Nam, từ năm 1989 đến nay, việc giá dollar tăng nhanh đã thể hiện là một nhân tố quan trọng trong việc khuyến khích xuất khẩu, cân bằng đựoc cán cân thanh toán trong điều kiện bị mất nguồn viện trợ tương đương hang tỷ dollar mỗi năm từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã có từ trước.

-Đồng tiền là tấm gương phản ánh thực trạng nền kinh tế. Nền kinh tế rât phức tạp và phong phú như một cơ thể sống. Có nhiều nhân tố luôn tác động đến trạng thái của nền kinh tế như sự thay đổi về điều kiện khai thác tài nguyên thiên nhiên, sự thay đổi trong quan hệ đối ngoại, sự thay đổi về kỹ thuật và công nghệ trên thế giới, sự thay đổi về mức sống thực tế…Do đó bản thân đồng tiền cũng có thuộc tính vận động cho thích hợp với thực trạng của nền kinh tế. Tất cả các đồng tiền đều thay đổi thước đo của mình cùng với thời gian, nhưng các đồng tiền có mức thay đổi chậm (thể hiện ở lạm phát) ở mức có thể chấp nhận được. Việc cố định tỷ giá dài hạn là không phù hợp với thực tế thị trường. Vấn đề ở chỗ việc cố định tỷ giá không những đòi hỏi một quỹ dự trữ lớn, mà còn ở chỗ nó có thể làm hao mòn quỹ ngoại tệ mà không đạt được mục tiêu ổn định kinh tế đề ra. Hiện nay đa số các nước, trong đó có cả Việt Nam đều thi hành chế độ tỷ giá thị trường có quản lý. Theo chế độ này, nhà nước thừa nhận rằng việc cố định tỷ giá một cách cứng nhắc là không phù hợp với kinh tế thị trường, mà chủ trương nên để cho các lực lượng thị trường hình thành tỷ giá. Chính phủ không chế tỷ giá ở mức độ hợp lý và được thị trường chấp nhận. Thả nổi tỷ giá không có nghĩa là giá dollar tăng lên mãi, mà nó thường xoay quanh điểm cân bằng thị truờng, nhất là trong điều kiện chính phủ coi chống lạm phát là quốc sách. Tại điểm cân bằng thị trường, nhà nước chỉ cần một lượng hạn chế ngoại tệ cũng có thể giữ được tỷ giá tương đối ổn định.

Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết không mâu thuẫn, trái lại là phù hợp với mục tiêu ổn định thị trường, giá cả. Trạng thái ổn định ở đây được hiểu là ở trạng thái năng động, tức là không ổn định cứng nhắc mà chuyển từ trạng thái ổn định này sang trạng thái khác có độ ổn định cao hơn.

1.5.5.Bản vị lương thực (Food Standard)

Xã hội và nền kinh tế không thể phát triển nếu thiếu cơ sở lương thực. Tầm quan trọng của lương thực được thừa nhận rộng khắp tại tất cả các nước trên thế giới. Là một nước nghèo đã trãi qua nhiều năm đói kém nên trong những năm trước đây lương thực được đặc biệt coi trọng ở Việt Nam. Do vậy không lấy làm lạ khi khái niệm bản vị lương thực đã từng được một số người đề xuất. Theo quan điểm bản vị lương thực thì giá trị đồng tiền sẽ được đảm bảo nếu giá lương thực ổn định.

Quan điểm này có vẻ đề cao vai trò của lương thực, nhưng trong thực tế nó không có tác dụng tốt đối với nông nghiệp. Thực tế cho thấy nếu kinh tế vĩ mô không được quản lý tốt, thì cho dù giá lương thực giữ được ổn định, thậm chí giảm xuống thì giá các mặt hang phi lương thực vẫn tăng, lạm phát vẫn diễn ra. Chẳng hạn, trong khoảng thời gian từ tháng 01/1992 đến 11/1992 giá lương thực đã giảm 11%, trong khi đó chỉ số giá chung lại tăng 13,5%. Trong điều kiện lạm phát mà giá lương thực vẫn ổn định thì điều đó có nghĩa là giá lương thực đã giảm tương đối so với các mặt hang khác, tỷ lệ trao đổi trở nên bất lợi đối với nông sản, làm giảm thu nhập thực tế của nông dân.

Dân số Việt Nam cũng như dân số nhiều nước đang phát triển khác, vẫn đang tăng nhanh. Cùng với quá trình tăng dân số, nhu cầu thiết yếu của nhân dân về thóc gạo sẽ ngày càng tăng. Với mức tiêu thụ của một người hiện nay, khi dân số nước ta đạt 100-120 triệu người thì hang năm chúng ta phải có 34-40 triệu tấn lương thực. Nếu kể đến nhu cầu lương thực ngày càng tăng lên trên thế giới thì trách nhiệm sản xuất lương thực của Việt Nam còn nặng nền hơn. Làm thế nào để đáp ứng nhu cầu sống còn của nhân dân trong điều kiện đất trồng trọt là có hạn?

Rõ rang là hải tăng chi phí đầu vào để thâm canh, khai thác các vùng đất trồng trọt xấu hơn. Điều đó không tránh khỏi dẫn đến tăng chi phí cho việc sản xuất ra một tấn lương thực. Đây là một quy luật kinh tế khách quan cần được nhận thức đầy đủ. Do đó cùng với quá trình tăng nhu cầu về lương thực, để bảo đảm nông nghiệp phát triển, chúng ta phải chấp nhận một mức giá lương thực cao hơn trước, bù đắp được chi phí sản xuất tăng lên.

Sự tăng giá lương thực được thể hiện tương đối ở sự thay đổi tỷ lệ trao đổi lương thực với các mặt hang khác. Nhân tố khoa học và công nghệ mới không chỉ có tác động giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, mà còn ở tất cả các ngành sản xuất khác, do đó để đơn giản hóa, có thể quan niệm rằng mức độ tác động của khoa học và công nghệ tới các ngành là như nhau, do đó ít ảnh hưởng tới tương quan giá cả.

Sự thay đổi tăng lên tương đối của giá lương thực không hề mâu thuẫn với mục tiêu ổn định mức giá chung, bởi vì trong khi giá lương thực tăng lên tương đối thì giá các mặt hang khác lại giảm xuống tương đối, đồng thời nhà nước còn có các biện pháp mạnh mẽ khác để giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Việc điều chỉnh tăng giá lương thực khi thấy cần thiết cũng là một tác nhân để nền kinh tế chuyển sang một trạng thái mới có độ ổn định cao hơn. Khả năng điều chỉnh tăng một giá cả riêng lẻ mà vẫn giữ được sự ổn định chung của giá cả không phải là nhược điểm của giá cả, mà chính là “vẻ đẹp” của giá cả.

Việc điều chỉnh giá lương thực nhiều khi gặp trở ngại vì nó có tác động nhất định đến đời sống của người tiêu dung, nhất là tầng lớp thu nhập thấp. Cần thấy rằng vấn đề ổn định mức sống không nên hạn chế trong việc giữ ổn định giá lương thực, vì nó có phạm vi rộng rãi hơn nhiều, số lượng lương thực trên đầu người, an toàn lương thực, đời sống của nông dân, năng suất lao động, công ăn việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bù giá vào lương…Giá lương thực được điều chỉnh sẽ khuyến khích nông nghiệp phát triển, do đó có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dung của nhân dân.

Giá trị đồng tiền không thể chỉ được đảm bảo bởi lương thực, mà còn bởi nhiều hang hóa và dịch vụ khác. Xã hội càng tiến bộ thì lương thực cũng chỉ chiếm một tỷ lệ hạn chế trong cơ cấu tiêu dung của nhân dân.

1.5.6.Bản vị hàng hóa (Commodity Standard)

Nếu như bản vị vàng gắn đơn vị tiền tệ với một lượng vàng nhất định, thf bản vị hang hóa lại gắn tiền với hàng hóa.

Bản vị hàng hóa hay đồng tiền được bảo đảm bằng hàng hóa đã xuất hiện và được áp dụng tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thông qua hệ thống thương nghiệp nhà nước và hệ thống giá nhà nước, đồng tiền được bảo đảm bằng hàng hóa cung cấp, thậm chí theo nhiều nhóm hàng. Bạn đường của hệ thống này là chế độ tem phiếu.

Liệu trong hệ thống kế hoạch hành chính này đồng tiền có phải là đồng tiền ổn định? Trong hệ thống này, đồng tiền được coi là ổn định trong chừng mực mà nhà nước còn duy trì được sự mua bán bình thường theo hệ thống giá nhà nước. Cái giá cao phải trả cho việc cố duy trì hệ thống này là chi phí cao, hiệu quả thấp, trao đổi mang tính gò ép, hình thành cơ cấu kinh tế không hợp lý, thị trường không có vai trò điều tiết nền kinh tế…Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó hệ thống giá nhà nước là một bộ phận quan trọng, đã thể hiện là không có hiệu quả và kèm theo nhiều tiêu cực khác, do vậy nó đã bị bác bỏ khi các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành cải cách, cải tổ và đổi mới nền kinh tế theo hướng thị trường.

Trong khuôn khổ của kinh tế thị truờng, bản vị hàng hóa có nội dung như thế nào? Cũng giống như trong bản vị vàng, bản vị hàng hóa riêng lẻ (thí dụ bản vị lương thực) cũng không được kinh tế thị trường chấp nhận. Tuy nhiên nếu như nhà nước ổn định được gá thị trường trong tổng thể (điều tiết nền kinh tế sao cho chỉ số giá thị trường hàng tiêu dung CPI=1) trong khi vẫn thừa nhận sự biến đổi tự nhiên của các giá cả riêng lẻ theo tình hình thị trường, thì khái niệm bản vị hàng hóa trong trường hợp này hoàn toàn có thể chấp nhận vì nó có tính khoa học, khả thi và hiện thực.

1.6.Khối tiền tệ

Sau khi chế độ tiền được bảo chứng bằng quý kim được thay thế hoàn toàn bằng tiền pháp định, không ai còn nghĩ rằng tiền là một loại vật chất quý như đồng vàng hay đồng bạc ngày xưa mà đã có nhận thức mới về tiền. Dấu hiệu cơ bản để một công cụ được gọi là tiền gồm có ba điểm:

-Thứ nhất có thể được dùng để trao đổi, thanh toán khi mua bán hàng hóa, sản phẩm, sức lao động, trí tuệ…

-Thứ hai có thể được dùng để mua bán hoặc chuyển nhượng

-Thứ ba có thể chuyển thành tiền mặt của chính phủ vào bất cứ lúc nào (có tính thanh khoản cao).

Trước thập niên 80, quỹ tiền tệ quốc tế và ngân hàng thế giới đã theo quan điểm hẹp về khối tiền tệ của một quốc gia. Nghĩa là khối tiền tệ bao gồm hai thành phần đó là tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn, còn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn không được xem là thành phần của khối tiền tệ, mà chỉ được xem là “chuẩn tiền”.

Kể từ thập niên 1980 trở đi, nhiều nhà kinh tế học bắt đầu xem những “chuẩn tiền” là thành phần của khối tiền tệ. Lúc này Quỹ tiền tệ và Ngân hàng thế gới gần như chấp nhập quan điểm này. Tuy nhiên, được phân biệt thành nhiều dạng khối tiền tệ:

Khối tiền tệ M1

-Tiền mặt

-Tiền gửi không kỳ hạn

Khối tiền tệ M2

-M1

-Tiền gửi tiết kiệm

-Tiền gửi định kỳ tại ngân hàng

Khối tiền tệ M3

-M2

-Các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác

Khối tiền tệ L

-M3

-Trái phiếu kho bạc ngắn hạn

-Trái phiếu tiết kiệm dài hạn của kho bạc

-Thương phiếu

-Các thuận nhận của ngân hàng.

Từ khối tiền tệ M1 đến khối tiền tệ L số lượng các thành phần tăng dần, tuy nhiên tính lỏng (khả năng thanh khoản) của các yếu tố này giảm dần.

*Lý thuyết lượng cầu về tài sản: là một lý thuyết rất quan trọng, được dùng để ứng dụng trong việc lựa chọn đầu tư sao cho hợp lý.

-Các yếu tố quyết định lượng cầu tài sản:

+Của cải: là toàn bộ tiềm lực kinh tế của nhà đầu tư. Lượng cầu về một tài sản thường có tương quan thuận với sự gia tăng của của cải. Khi của cải tăng lên, lượng cầu về các loại tài sản khác nhau sẽ tăng theo những mức độ khác nhau.

Ví dụ: tại thời điểm một cá nhân A có số lượng của cải là 10 triệu, cá nhân này sẽ giữ cho mình một lượng tiền mặt là 1triệu (chiếm 10% tổng số của cải), tuy nhiên khi cá nhân A có số lựong của cải là 100 triệu, thì lúc đó ông ta chỉ giữ tiền mặt là 5triệu (chiếm 5% tổng số của cải), số còn lại ông ta dùng để đầu tư vào bất động sản, chứng khoán…

Như vậy, khi số lượng của cải tăng lên thì nhu cầu đầu tư cũng tăng.

+Lợi tức dự tính của một tài sản so với lợi tức của tài sản khác: các loại tài sản có cùng mức độ rủi ro và số tiền đầu tư tương đương nhau, nếu tài sản nào có lợi tức dự tính cao hơn thì được yêu thích đầu tư hơn.

+Rủi ro kèm với lợi tức tài sản: các loại tài sản có cùng mức lợi tức dự tính tương đương nhau, nếu tài sản nào có độ rủi ro dự tính thấp hơn thì thường được yêu thích lựa chọn.

Như vậy nhà đầu tư có mối quan tâm hàng đầu tới lợi tức của một tài sản. Song mức rủi ro về lợi tức của tài sản cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ vào tài sản đó.

+Sở thích của nhà đầu tư: tùy thuộc vào sở thích của các nhà đầu tư:yêu thích mạo hiểm hay thích tính ổn định, ngại rủi ro thì các loại tài sản khác nhau được lựa chọn đầu tư.

+Tính lỏng của tài sản: các loại tài sản có tính thanh khoản cao thường được lựa con đầu tư. Thời gian và chi phí để chuyển sang tiền mặt của các tài sản khác nhau là khác nhau. Một trái phiếu kho bạc không đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí cao khi chuyển nó ra tiền mặt, vì thế tính lỏng của loại trái phiếu này cao. Trong khi đó, việc bán một ngôi nhà để thu tiền mặt về lại đòi hỏi thời gian thực hiện và chi phí giao dịch ( chi phí tư vấn, mội giới…), vì thế ngôi nhà có tính lỏng thấp hơn. Tính lỏng của trái phiếu kho bạc cao hơn ngôi nhà, do đó lượng cầu về trái phiếu đó sẽ lớn hơn so với lượng cầu về ngôi nhà.

-Các phép đo một số nhân tố quyết định lượng cầu tài sản:

+Lợi tức dự tính:     n

RETe  = ∑ RETi x Pi

i = 1

RETi: các lợi tức của việc thực hiện của một phương án đầu tư

Pi: Xác suất của các lợi tức thực hiện

N: Số lượng lợi tức thực hiện của một phương án

-Các phép đo một số nhân tố quyết định lượng cầu tài sản:

+Để đo độ rủi ro, nhà đầu tư cần đo độ lệch của những lợi tức thực tế so với lợi tức dự tính ở các phương án đầu tư:

n                                            n

δ2 = ∑ (RETe – RETi)2Pi hay δ=[ ∑ (RETe – RETi)2Pi ]1/2

i = 1                                       i =1

-Các phép đo một số nhân tố quyết định lượng cầu tài sản:

+Lợi tức cuối cùng của danh mục đầu tư:

n

RETp = ∑ RET ei x Wi

i = 1

Wi là tỷ lệ tài sản i được đầu tư trong tổng số của cải

N: là số lượng tài sản được đầu tư khác nhau

RETei là lợi tức dự tính của mỗi phương án i

-Các phép đo một số nhân tố quyết định lượng cầu tài sản:

+Độ rủi ro của mỗi danh mục đầu tư thông qua độ lệch chuẩn được tính theo công thức

n                               n

δ2p = ∑W2iδ2i   hay    δp= ∑(W2iδ2i )1/2

i = 1                          i =1

*Tiền tệ ở Việt Nam qua các thời kỳ:

Ở nước ta, thời Hùng Vương tiền được đúc bằng đồng. Vào thế kỷ thứ 6, thời vua Lý Nam Đế, đã đúc tiền đồng lấy tên là “Thiên Ấu Thống Bảo” (544-548). Giặc ngoại xâm tại phương Bắc tràn vào thủ tiêu đồng tiền nước ta và bắt nhân dân ta sử dụng đồng tiền của chúng “Khải Nguyên Thống Bảo”(713-741) và “Can Nguyên Thang Bảo”(758-760). Đến Nhà Đinh, Đinh Tiên Hoàng (968-978) dẹp loạn, cho đúc tiền tại Hoa Lư, đặt tên “Thái Bình Hưng Bảo” cho lưu thông trong nước.

Các thời nhà Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê đã có các loại tiền đúc riêng khác nhau. Thời Hồ Quý Ly (1400-1407) đã in ra tiền giấy, năm 1428 Lê Lợi xóa bỏ tiền giấy khôi phục tiền đúc.

Thời nhà Mạc đúc tiền “Minh Đức Thông Bảo” bằng sắt, bằng đồng. Đó là loại tiền sắt duy nhẩ trong lịch sử tiền tệ nước ta thời phong kiến.

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, có chế độ tiền tệ của hai miền nhưng cả hai đều hoạt động dưới chiêu bài phò Lê nên đồng tiền “Cảnh Hưng” của vua Lê vẫn lưu hành trong cả nước. Trong thời kỳ này có nhiều loại tiền như tiền của những người cần đầu quân khởi nghĩa chống phong kiến, tiền của thầy phù thủy, của bọn nhà giàu…

Thời Quang Trung có đồng tiền “Quang Trung Thông Bảo”. Các triều đại nhà Nguyễn đúc tiền kẽm, đúc vàng, bạc dưới dạng thoi nén. Thời Gia Long có tiền bạc tròn nặng 27,3 gram. Minh Mạng có tiền bạc nặng 13 gram.

Tại thế kỷ 17, trước khi thực dân Pháp xâm chiến nước ta, bọn tư bản Phương Tây đến Việt Nam mang theo nhiều loại tiền để mua hàng hóa. Thực dân Pháp lập ngân hàng Đông Dương thay các loại tiền trên (21-01-1875), phát hành tiền giấy và tiền kim loại.

Sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, ngày 01-12-1945, nước ta lưu hành tiền bằng nhôm do Bộ Tài Chính phát hành. Đó là đồng tiền đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ngày 03-02-1945, phát hành tiền giấy miền Nam Trung Bộ. Kỳ họp thứ hai, khó một của Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộg Hòa quyết định phát hành trong cả nước. Việc phát hành do Bộ Tài Chính thực hiện.

Năm 1951 Ngân hàng Quốc gia phát hành giấy bạc ngân hàng thay cho giấy bạc tài chính, nâng cao giá trị đồng tiền nước ta.

Tháng 12-1959, thu đồng tiền cũ, phát hành tiền mới theo tỷ lệ một đồng tiền mới bằng 1000 đồng tiền cũ.

Sauk hi Miền Nam giải phóng, tháng 05-1975, tại Miền Nam nhà nước phát hành tiền mới theo tỷ lệ một đồng tiền mới băng 500 đồng tiền cũ.

Ngày 03-05-1978, nhà nước phát hành tiền Ngân hàng mới, thay đổi thống nhất trong cả nước theo tỷ lệ một đồng tiền mới bằng một đồng tiền cũ của miền Bắc và một đồng tiền mới bằng 0,8 đồng tiền cũ của Miền Nam.

Tháng 09-1985, nhà nước thực hiện cải các tiền tệ, phát hành tiền mới theo tỷ lệ một đồng tiền mới bằng 10 đồng tiền cũ.

————————–

Tìm hiểu thêm:

Posted in 1.5.Bản vị tiền tệ | Tagged: | Leave a Comment »