Ngocngoctan chào các bạn

Just another WordPress.com weblog

2.1.Khái niệm lạm phát

Posted by ngocngoctan on 11/03/2010


2.1.Khái niệm lạm phát

Lạm phát là một phạm trù kinh tế vốn có của nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ, là căn bệnh nảy sinh khi yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ không được tôn trọng.

Các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều lý thuyết để chẩn đoán và xác định các giải pháp chữa chạy. Song, trước khi xem xét “căn bệnh” và các giải pháp, cần phải xách định lạm phát là gì?

Lạm phát là vấn đề không máy xa lạ đối với một nền kinh tế hàng hóa và hầu hết mọi người đã chứng kiến và trãi qua thời kỳ lạm phát ở các mức độ khác nhau. Nhưng hiểu chính xác lạm phát là gì không phái là dễ. Ngay cả các nhà kinh tế học cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát. Xét về mặt nội dung thì có thể chia quá trình phát triển của khái niệm lạm phát thành các giai đoạn sau:

2.1.1.Giai đoạn thứ nhất: từ năm 1890 trở về trước:

Lạm phát được coi là sự phát hành quá nhiều tìen mặt (tiền giấy) dẫn đến tình trạng giảm giá trị đồng tiền, nghĩa là tăng giá ( tăng chỉ số giá). Đó là quan điểm lan truyền rộng rãi khắp các nước phương Tây.

ạm phát là sự tràn ngập các lượng lưu thông những tờ giấy bạc thừa gây nên sự mất giá của đồng tiền…”

Trong một số quyển sách cũng có định nghĩa tương tự:” lạm phát là sự mất giá của đồng tiền do vi phạm quy luật lưu thông tiền tệ”

Có thể có nhiều định nghĩa khác nữa nhưng chủ yếu đều tập trung vào hai điểm cơ bản:

-Một là phát hành quá nhiều tiền giấy, tức là vi phạm “quy luật lưu thông tiền tệ”

-Hai là thể hiện chủ yếu nhất hoặc hậu quả trực tiếp nhất của sự lạm phát là sự mất giá đồng tiền, cũng là sự tăng giá cả.

Định nghĩa này xuất phát từ lý thuyết về số lượng tiền cần thiết trong lưu thông, nó được tính theo công thức sau:

Trong đó:

S: là lượng tiền cần thiết trong lưu thông

Pi:là giá đơn vị của hàng hóa i

Xi:là số lượng hàng hóa i

SSố hạng tại tử số biểu thị tổng giá cả. Vậy lượng tiền cần thiết trong lưu thông bằng tổng gia cả chia cho só vòng quay của đồng tiền. Thoạt nhìn, công thức trên có vẽ như một công thức định lượng chính xác, nhưng thực tế ấy chỉ là một công thức định tính. Trước hết hãy xem xét cách tính tổng giá cả. Tổng giá cả là một khái niệm mà không biết những loại hàng hóa nào thì được kể vào để tính, tính một lần hay tính mấy lần. Chẳng hạn những bát động sản sau:nhà cửa, vườn tược khi đem bán rồi còn tính vào tổng giá cả hay không? Hoặc một loại hàng hóa mua đi bán lại nhiều lần, thậm chí người mua dùng một thời gian rồi bán lại thì cách tính toán vào tổng giá cả như thế nào? Không có tiêu chuẩn quy định chặt chẽ thì không thể tính chính xác được.

Còn số quay vòng đồng tiền V: đối với một gia đình hoặc một xí nghiệp kinh doanh, gười ta đề xuất cách tính, nhưng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì V cũng là một con số không chính xác, do vậy S cũng là một con số không chính xác.

Bây giờ hãy bỏ qua thực tế và coi như công thức (1) được hoàn toàn chính xác, người tga đã nêu lên định nghĩa về chỉ số lạm phát a (hoặc còn gọi là mức độ lạm phát, tỷ lệ lạm phát, tốc độ lạm phát)

Trong đó: S là lượng tiền thực tế phát hành

Như vậy   S – S  là số tiền phát hành quá mức cần thiết và chỉ số lạm phát chính là tỷ lệ giữa số tiền phát hành quá mức cần thiết so với lượng tiền cần thiết.

Dễ dàng chứng minh bằng toán học được rằng, nếu giữ nguyên vòng quay của đồng tiền thì lượng tiền phát hành them bao nhiêu phần trăm thì chỉ số giá cũng tăng lên bấy nhiêu phầm trăm. Vậy tỷ lệ lạm phát cũng chính là tỷ lệ tăng giá.

Trong thực tế, mối quan hệ lượng tiền phát hành và chỉ số giá không chặt chẽ như thế này mà chỉ là một quan hệ định tính, nghĩa là khi phát hành quá nhiều tiền mặt thì nói chung giá cả sẽ tăng lên.

Một nhận xét khác đối với định nghĩa trên là không nhữngnó thiếu chặt chẽ về số lượng mà còn thiếu chặt chẽ cả về khái niệm. Ta hãy xét một ví dụ sau: phát hành them nhiều tiền, dẫn đến tăng giá mà không lạm phát. Thật vậy, nếu chúng ta phát hành saôch số tiền lưu thông tăng lên mười lần và nhà nước đền bù cho mỗi người bằng chin lần số tiền mà họ có. Điều này có ý nghĩa như một thay đổi đơn vị tiền tệ, hoàn toàn không có gì liên quan đến lạm phát. Chỉ có sự tăng giá không đồng đều mới có quan hệ đến lạm phát, còn sự tăng giá đồng đều chỉ có ý nghĩa như một cuộc đổi đơn vị đồng tiền mà thôi.

Với quan niệm rất hạn hẹp như trên nên việc chống lạm phát rất giản đơn, đó làm tìm cách hạn chế việc phát hành tiền mặt. Nhưng việc phát hành tiền mặt đâu phải tùy chính phủ mỗi nước muốn thế nào cũng được. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong chiến tranh, có những khoản chi mà chính phủ không thể bác bỏ, nhưng cũng không có nguồn thu nào ngoài việc phát hành tiền. Việc phát hành đó là bắt buộc. Chính phủ không có khả năng lựa chon phát hành nhiều hay ít. Thực tế đó đã mở đường cho một giai đoạn mới của khái niệm tiền tệ.

2.1.2.Giai đoạn thứ hai: Từ những năm sau 1890 đến những năm trước 1950, lạm phát được coi là tình trạng cầu lớn hơn cung, dưới gốc độ tài chính thì chính là chi lớn hơn thu. Chỉ số lạm phát được định nghĩa theo công thức:

Theo quan điểm này, khi xuất hiện chênh lệch chi lớn hơn thu là có lạm phát. Ví có nhiều hình thức thu chi khác nhau: thu chi ngân sách, thu chi tiền mặt, thu chi tín dụng, nên cũng sinh ra nhiều khái niệm lạm phát khác nhau: lạm phát ngân sách, lạm phát tiền mặt, lạm phát tín dụng.

Như vậy, khái niệm lạm phát ở giai đoạn này chính là đi vào nguyên nhân trực tiếp của khái niệm lạm phát ở gia đoạn thứ nhất. Vấn đề này có nguyên nhân lịch sử của nó: đó là giai đoạn từ lúc phôi thai của chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho đến khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Các nước gây chiến và tham chiến trước và trong chiến tranh thì nhu cầu chi tăng lên gấp bội, sau chiến tranh do bị tàn phá, sản xuất ngưng trệ, nguồn thu giảm sút nghiêm trọng, cho nên chênh lệch thu chi trong thời gian này ở nhiều nước như: Đức, Ý, Nhật, Pháp, Liên Xô, Hungari đi đến mức khủng hoảng, chẳng có cách nào là phải phát hành tiền để bù đắp vào chỗ thiếu hụt, làm cho đồng tiền bị mất giá một cách thảm hại. Ở Liên Xô, số lượng tiền lưu thông năm 1923 gấp 630.000 lần so với năm 1914, và chỉ số giá trong thời kỳ này tăng lên 21 triệu lần.

Với quan niệm lạm phát thực chất là chênh lệch thu chi thì biện pháp chống lạm phát chủ yếu là giảm chênh lệch đó, nghĩa là làm thế nào để tăng thu giảm chi.

-Tăng thu chủ yếu nhờ vào chính sách thuế, chính sách khuyến khích sản xuất, chính sách đầu tư và thu hút vốn vay, phát hành công trái, xin viện trợ.

-Giảm chi chủ yếu nhờ vào chính sách tiêu dùng xã hội, chính sách tiết kiệm bắt buộc, giảm biên chế hành chính và thu gọn biên chế nhà nước….

Cho dù khái niệm lạm phát được xem xét theo nội dung của giai đoạn thứ nhất hay thứ hai thì vẫn xét đến việc tăng giá vì phát hành nhiêu tiền hay cầu lớn hơn cung gây ra sự tăng giá. Như vậy sự tăng giá vừa là biểu hiện vừa là hậu quả trực tiếp của hai tình huống trên, cho nên giá cả trở thành cốt lõi của vấn đề. Đó chính là nội dung của lạm phát trong một giai đoạn mới.

2.1.3.Giai đoạn thứ ba: từ năm 1950 đến năm 1972

Trong giai đoạn này lạm phát được đồng nhất với sự tăng giá; cho đến nay một số tiêu chí trên thế giới vẫn sử dụng khái niệm này, chăng hạn người ta nói năm 1986 chỉ số lạm phát ở Việt Nam là 700% thì điều đó có nghiã là chỉ số giá cuối năm 1986 gấp 700 lần chỉ số giá đầu năm 1986 (tức là cuối năm 1985). Như chúng ta đã biết vấn đề giá là vấn đề rất phức tạp; tất cả những vấn đề phức tạp nhất về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, đối nội, đối ngoại, đều liên quan đến vấn đề giá. Như vậy, việc tăng giá không chỉ do nguyên nhân phát hành tiền, chênh lệch cung cầu, hay bội chi mà còn do nhiều nguyên nhân khác mà người ta gọi chung là nguyên nhân phi tìền tệ, phi tài chính: chẳng hạn do tâm lý, do quản lý, do chi phí sản xuất thực tế tăng lên, do sự phá hoại của đối phương…

Như vậy, tiến bộ ở giai đoạn thứ ba là nêu lên được vấn đề mấu chốt của lạm phát là vấn đề tăng giá mà trước đó người ta coi như là một biểu hiện hay hậu quả trực của lạm phát. Ngoài ra, lạm phát được coi là một vấn đề tổng hợp, trong đó vấn đề tiền tệ, tài chính, tuy rất quan trọng nhưng không phải là tất cả. Và tất nhiên giải pháp chống lạm phát không thể chỉ bao gồm giải pháp tiền tệ hoặc tài chính đơn thuần.

2.1.4.Giai đoạn thứ tư: từ năm 1972 đến nay.

Cái mốc thời gian 1972 có những sự kiện đáng ghi nhớ:

-Đông Đollar giấy từ bỏ “kim bản vị” tức là không còn được đản bảo bằng vngf. Điều này liên quan đến “học thuyết tiền tệ” của Friedman

-Lý thuyết hệ thống, cách tiếp cận hệ thống, các quan điểm và nguyên lý của điều khiển học xâm nhập mạnh mẽ vào một số lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.

-Các nhà kinh tế Mác-xít ấu trĩ cuối cùng cũng đã bắt đầu nhận ra rằng, sự giảm giá không phải lúc nào cũng hay và sự tăng giá không phải lúc nào cũng dỡ, và lạm phát không phải là căn bệnh chỉ dành riêng cho CNTB. Cái mới về nội dung của lạm phát ở đây là các vấn đề về tiền tệ, giá cả, tài chính, tiền lương được xem xét như một tổng thể (quan điểm hệ thống) trong đó giá cả là vấn đề trung tâm, mối quan hệ giữa chúng không phải là mối quan hệ nhân quả mà là mối quan hệ vừa nhân vừa quả, nghĩa là mỗi yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là hậu qủa của các yếu tố khác. Giá tăng lên là do nguyên nhân phát hành tiền và chênh lệch cung cầu, nhưng nó cũng tác động trở lại đến việc làm phát hành và làm thay đổi chênh lệch cung cầu. Các mối quan hệ này được mô tả bằng sơ đồ sau:

Khi đó lạm phát được miêu tả như sau: trong quá trình vận hành của nền kinh tế, nếu 4 yếu tố: tài chính, tiền tệ, giá cả, tiền lương đạt được một sự phối hợp hài hòa , nghĩa là giữa chúng có một sự cân bằng (cân bằng động) thì lúc đó không có lạm phát, giá cả tiền tệ ổn định, cung cầu, thu chi cân bằng, tiền lương trang trãi đủ cuộc sống. Nếu không đạt được trạng thái cân bằng đó thì nền kinh tế có những biến động. Sự biến động này có thể xảy ra theo hai hướng:

-Một là, giá cả tăng hơn giá trị, tiền phát hành quá mức cần thiết, bội chi tăng, tiền lương thực tế giảm, đó là khuynh hướng lạm phát.

-Hai là, giá cả giảm xuống và nhỏ hơn hẳn giá trị, tiền lương phát hành ít hơn mức cần thiết, bôi chi tăng lên, tiền lương thực tế tăng, đó là khuynh hướng thiểu phát.

Điều đáng chú ý ở đây là không nhất thiết cả 4 yếu tố đều ngả về cùng một phía, rất có thể một số yếu tố ngả về phía này, còn các yếu tố khác lại ngả về hướng khác. Ngoài ra sự thiểu phát cũng gây ra những tác hại không kém gì lạm phát.

Tóm lại, hiện nay chúng ta có thể hiểu khái niệm lạm phát như sau:

Lạm phát là trong lĩnh vực lưu thông tràn ngập khối lượng tiền thừa, làm cho tiền tê ngày càng mất giá so với toàn bộ sản phẩm hàng hóa, vàng, ngoại tệ và được đo lường bằng chỉ số giá cả tổng quát ngày càng tăng.

Chỉ số giá cả tổng quát (Chỉ số giá tiêu dùng CPI):

n: số mặt hàng có trong giỏ hàng của một người tiêu dùng bình quân

pi0: giá mặt hàng i thời kỳ gốc

pi1: giá mặt hàng i thời kỳ so sánh

qio : số lượng mặt hàng i thời kỳ gốc

-CPI = 1: nền kinh tế ổn định, đồng tiền có tính ổn định, đáng tin cậy.

-CPI < 1: cho biết rằng giá cả đã giảm xuống, nền kinh tế đang ở trạng thái giảm phát, giá trị đồng tiền tăng lên.

-CPI > 1: giá trị đồng tiền giảm, nển kinh tế có lạm phát.

*Giá trị thời điểm của đồng tiền:

Cũng như các sự vật khác, giá trị của đồng tiền cũng vận động không ngừng. Cùng với sự giảm sức mua, giá trị của đồng tiền cũng giảm theo cùng tỷ lệ với mức lạm phát. Tại mỗi thời điểm nhất định, giá trị của đồng tiền là một đai lượng xác định. Có thể gọi giá trị này là giá trị thời điểm của đồng tiền.

Mối quan hệ giữa giá trị thời điểm của đồng tiền với giá trị của đồng tiền tại thời điểm được chọn làm gốc có thể được biểu hiện bởi công thức sau:

GT=GTo/CPI (*)

Trong đó: GT: giá trị thời điểm của đồng tiền

GTo: giá trị của đồng tiền tại thời điểm gốc

CPI: chỉ số giá hàng tiêu dùng trong khoảng thời gian từ thời điểm gốc đến thời điểm tính toán.

Có thể tính CPI căn cứ vào chỉ số tiêu dùng theo từng tháng hoặc từng năm:

CPI = CPI1 x CPI2 x CPI3 x CPIi x …x CPIn

Trong đó: CPI1 là chỉ số giá hàng tiêu dùng tháng (năm) đầu

CPI2 là chỉ số giá hàng tiêu dùng tháng (năm) thứ hai

CPIi là chỉ số giá hàng tiêu dùng tháng (năm) thứ i

CPIn là chỉ số giá hàng tiêu dùng tháng (năm) thứ n

Nếu mức lạm phát không thay đổi qua các tháng (năm) thì:

CPI = CPIin, khi đó công thức (*) có dạng:

GT = Gto/CPIin

Giá trị của đồng tiền là một khái niệm kinh tế trừu tượng, không thể xác định giá trị tuyệt đối của nó được, nhưng hoàn toàn có thể xác định giá trị tương đối của nó, tức là có thể so sánh giá trị thời điểm với giá trị tại thời điểm gốc. Giá trị tương đối của đồng tiền phản ánh mức độ thay đổi giá trị của đồng tiền. Bằng cách coi giá trị của đồng tiền tại thời điểm gốc Gto = 1, công thức (*) có dạng như sau:

GT = 1/CPI (**)

GT = 1/CPIin (***) (khi mức lạm phát không thay đổi trong các năm)

Sau đây chúng ta sử dụng công thức (***) để xác định giá trị của đồng tiền tại các năm khác nhau khi coi giá trị đồng tiền tại năm gốc nhận giá trị bằng 1 và mức lạm phát không thay đổi trong các năm.

Trường hợp mức lạm phát = 0, ta có CPIi = 1 và GT = 1

Trường hợp mức lạm phát = 5%, ta có CPIi = 1,05 và GT = 1/1,05n

Một phản hồi to “2.1.Khái niệm lạm phát”

  1. khanh said

    thanks.bai viet rat huu ich

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: