Ngocngoctan chào các bạn

Just another WordPress.com weblog

Năm đặc trưng của lạm phát toàn cầu

Posted by ngocngoctan on 09/04/2011


Năm đặc trưng kỳ lạ của lạm phát toàn cầu

Thứ bảy , 30 / 8 / 2008, 22: 16 (GMT+7)
 
Lạm phát toàn cầu hiện mang những đặc trưng nào? Đặc trưng của lạm phát ngày nay phải là những hiện tượng mới chưa từng xuất hiện trong những lần lạm phát trước đó. Có thể khẳng định, lạm phát chúng ta đang phải đối mặt ngày nay là một hiện tượng hoàn toàn mới, hoàn toàn đặc biệt. Nó có 5 đặc trưng chưa từng có trong lịch sử cần chúng ta phải quan tâm nghiên cứu chặt chẽ.

Đặc trưng thứ nhất: lạm phát xuất hiện ở cả các nước phát triển và nước đang phát triển.
 

Nhật Bản có thể là một ngoại lệ duy nhất bởi cho tới ngày hôm nay, CPI của Nhật chỉ tăng dưới 2%. Những nước công nghiệp phát triển khác đều xuất hiện lạm phát ở mức độ khá nghiêm trọng bao gồm cả các nước châu Âu. Ai cũng biết, yêu cầu pháp lý của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) là khống chế lạm phát của châu Âu ở mức dưới 2%. Đó là nhiệm vụ duy nhất, mục tiêu duy nhất của ECB. Nhưng, cho tới tháng 5 năm nay, tỷ lệ lạm phát trung bình ở EU đã vượt quá 3,3% và dự báo tỷ lệ lạm phát quý 3 của EU cũng sẽ là hơn 5%, thậm chí có thể là 5,5%. Đây là điều hi hữu trong suốt lịch sử hơn nửa thế kỷ vừa qua của châu Âu. Lạm phát của Mỹ vào quý 2 năm nay cũng đang diễn biến theo chiều hướng xấu và Fed đã không thể tiếp tục cắt giảm lãi suất. Những số liệu gần đây cho thấy lạm phát kỳ vọng của Mỹ sẽ còn tăng. Theo số liệu của tháng 4, tỷ lệ lạm phát trung bình toàn cầu cho năm nay đã là hơn 5,5%. Phải thừa nhận, đây là một hiện tượng hiếm thấy, một hiện thực mới..Lạm phát ở các nước đang phát triển còn tồi tệ hơn. Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã vượt qua con số 25% và đây là một con số khá nổi bật. Khỏi phải bàn tới quốc gia châu phi Zimbabue nơi đã phát hành tờ tiền mệnh giá lớn nhất trong lịch sử nhân loại và trở thành quán quân lạm phát toàn cầu với mức lạm phát lên tới vài trăm ngàn phần trăm, ngang ngửa với lạm phát ở Đức hồi những năm 20 thế kỷ 20. Trên thực tế, hệ thống tài chính kinh tế của Zimbabue đã đổ vỡ. Tình hình lạm phát ở các quốc gia khác cũng không mấy lạc quan. Nửa đầu năm nay, tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc, Ấn Độ, Saudi Arabia đều ở mức từ 7-10%. Lạm phát gần đây của Ấn Độ đã là 12% trong khi các số liệu ở Nga, Argentina và Venezuela còn cao hơn, lần lượt là 14%, 23%, 29% và vẫn còn đang diễn biến theo chiều hướng xấu. Tạp chí “Nhà kinh tế” Anh đã thử dự báo cho 10 nền kinh tế lớn trên thế giới vào mùa hè năm nay trong đó có ít nhất 5 nước có lạm phát hơn 10%.

Lạm phát đã xuất hiện trong nhiều thời kỳ của lịch sử nhân loại, không cần phải kể xa xôi, chỉ cần nói tới lần lạm phát vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Trong thời kỳ đó, các nước công nghiệp phát triển không chỉ chịu lạm phát nghiêm trọng mà nền kinh tế còn phải trải qua mức tăng trưởng thấp hoặc thậm chí là tăng trưởng âm. Các nhà kinh tế học đã phát minh ra một từ gọi là “lạm phát trì trệ” để hình dung về tình hình kinh tế những năm ấy. Nhưng lần lạm phát “có tính toàn cầu” từ 1972-1980 ấy thực tế chỉ diễn ra ở các nước phương Tây bởi lúc bấy giờ, các nước xã hội chủ nghĩa đóng cửa đối với hệ thống kinh tế các nước công nghiệp phương Tây, Trung Quốc cũng còn chưa cải cách mở cửa.

Nhưng lạm phát lần này đang cùng xuất hiện ở cả các nước phát triển và đang phát triển và gần như không có ngoại lệ, đó là một đặc trưng hết sức nổi trội. Chúng ta có thể nói: đây là lần lạm phát có tính toàn cầu đầu tiên trong thời đại toàn cầu hoá.
 

 

Nguồn – fotosearch.com

 

Đặc trưng thứ 2: lạm phát của các nước đang phát triển trầm trọng hơn các nước phát triển.

Mức lạm phát cao nhất ở các nước phát triển chưa tới 5% trong khi mức lạm phát thấp nhất của các nước đang phát triển cũng đã sớm bỏ xa con số 5% này. Phải giải thích hiện tượng này ra sao? Cách giải thích tiêu chuẩn hiện nay là: căn nguyên của lạm phát toàn cầu là do giá dầu thô (năng lượng) và giá lương thực tăng, các nước đang phát triển có tỷ suất tiêu hao năng lượng cao, tỷ lệ chi cho tiêu dùng thực phẩm trong tổng tiêu dùng cũng cao và do đó mức lạm phát của họ đều vượt các nước phát triển. Cách giải thích này có lý trong một chừng mực nhất định, nhưng không hoàn toàn. Mức lạm phát của các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển cần phải tìm nguyên nhân chủ yếu từ cơ chế vận hành của hệ thống tiền tệ quốc tế mà đặc biệt là luồng di chuyển của nguồn vốn đầu cơ quốc tế.

Đặc trưng thứ 3 cũng là một hiện tượng khá thú vị, mang nhiều ý nghĩa gợi mở cho chính sách tiền tệ của các nước ví dụ như Trung Quốc. Đó là: các nước có đồng tiền lên giá và các nước có đồng tiền xuống giá đều cùng xảy ra lạm phát. Hơn thế, lạm phát của các nước có đồng tiền tăng giá còn nghiêm trọng hơn ở các nước có đồng tiền mất giá.

Riêng điểm này đã đủ để chứng minh: chính sách khống chế lạm phát bằng cách tăng giá trị đồng tiền đã không còn tác dụng. Đây là một hiện tượng quan trọng nổi bật cần giải thích tỉ mỉ và coi trọng đúng mức. Những nước đã nêu ở trên như Nga, Saudi Arabia, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Argentina đều có đồng nội tệ lên giá trong 3 năm vừa qua hoặc có triển vọng tăng giá mạnh một cách rõ ràng.

Theo lý luận tiêu chuẩn của kinh tế học vĩ mô đồng thời căn cứ vào quan điểm của phần lớn giới nghiên cứu, đồng nội tệ tăng giá có thể khống chế lạm phát. Căn cứ lý luận của nó là, tăng giá giúp làm giảm giá hàng hoá nhập khẩu, khống chế nhu cầu xuất khẩu, giảm thiểu lượng cung ứng tiền cơ sở của đồng nội tệ do phải nhả tiền ra đổi ngoại tệ, giảm nhu cầu tiền tệ của người dân đối với đồng nội tệ v..v… Nhờ cách này nó có thể khống chế lạm phát, do vậy chủ trương tăng giá đồng nội tệ nếu chỉ tăng giá trong biên độ hẹp không có tác dụng sẽ phải tăng với biên độ lớn, tăng chậm rãi không được thì phải tăng một cách nhanh chóng.

Lý luận và chủ trương chính sách tăng giá nội tệ để khống chế lạm phát xem ra rất logic nhưng trên thực tế, người ta đã bỏ qua sự thực rằng lý luận muốn thành hiện thực phải cần tới những điều kiện giả thiết hết sức nghiêm ngặt. Nói một cách chặt chẽ: lý luận trên chỉ thành hình một cách miễn cưỡng ở các nền kinh tế nhỏ và không thành hình ở các nền kinh tế lớn, càng khó thành hình ở các hệ thống kinh tế nơi đồng nội tệ duy trì tăng giá kỳ vọng và vốn quốc tế không ngừng rót vào. Vậy nên, những gì chúng ta đang thấy ngày nay không phải là tăng giá có thể giúp khống chế lạm phát, không thấy có trường hợp nào đồng nội tệ tăng giá thì nước đó không xuất hiện lạm phát mà hoàn toàn ngược lại. Dù đồng tiền của bạn mạnh lên hay yếu đi, lạm phát cũng vẫn tác oai tác quái, không có ngoại lệ nào.

Từ tháng 7/2005 cho tới nay, đồng tiền của Trung Quốc đã tăng giá trị 20%, tình hình lạm phát lại tăng từ mức chưa tới 2% lên tới hơn 8%. Đối với trường hợp của Trung Quốc, đồng Nhân dân tệ tăng giá và liên tục tăng giá đơn phương đã thu hút một lượng vốn khổng lồ đổ vào, đó là nguyên nhân căn bản nhất của lạm phát Trung Quốc. Không chỉ có riêng Trung Quốc, sự thực diễn ra ở các nước khác cũng chứng minh đồng nội tệ mạnh lên không giúp ích cho việc khống chế lạm phát. Rất nhiều nước có đồng nội tệ lên giá mạnh nhưng cũng xuất hiện lạm phát nghiêm trọng. Lý luận kinh tế tiêu chuẩn chúng ta vẫn quen thuộc không tìm được lời giải cho những hiện tượng này.


Nguồn – hafi.com.vn

 

Đặc trưng thứ 4: lạm phát xuất hiện đồng thời ở cả những nước sử dụng tỷ giá cố định và những nước sử dụng tỷ giá thả nổi, lý luận tỷ giá và lý luận tiền tệ tiêu chuẩn cũng không giúp giải thích được.

Ai cũng hiểu rằng: lý luận tỷ giá tiêu chuẩn cho chúng ta hay, thả nổi đồng nội tệ sẽ giúp chống đỡ sự tấn công hoặc “thâm nhập” của lạm phát bên ngoài còn đồng tiền cố định tất yếu sẽ phải đối mặt với sự tấn công hoặc “thâm nhập” của lạm phát bên ngoài. Lý luận còn khẳng định thêm: thay đổi hoặc biến động tỷ giá có thể đại diện cho thay đổi hoặc biến động của mức giá cả. Đây là mệnh đề khá quan trọng và kinh điển trong lý luận tiền tệ và lý luận lãi suất, người đề cập tới mệnh đề này sớm nhất là nhà kinh tế học Cairns. Năm 1923, Cairns đã viết cuốn “luận về cải cách tiền tệ”, bối cảnh của cuốn sách là sau chiên tranh thế giới thứ nhất, nước Anh lâm vào giảm phát tồi tệ và nhìn chung toàn thế giới đang trong chu kỳ giảm phát và Fed cũng chỉ mới ra đời. Cairns phân định rõ “ổn định bên trong” với “ổn định bên ngoài”, ổn định bên trọng trước tiên phải là ổn định trong mức giá hàng hoá. Cairns chủ trương: muốn duy trì sự ổn định của mức giá hàng hoá thì có thể chấp nhận hi sinh ổn định bên ngoài (tức là sự ổn định tỷ giá) và cho phép đồng tiền thả nổi.

Thế nhưng, thực tế kinh nghiệm lịch sử sau nay đã buộc Cairns phải thay đổi lý luận của mình bởi ông phát hiện, tỷ giá thả nổi bản thân nó ngược lại sẽ đẩy mức giá hàng hoá biến động xấu đi. Quan hệ nhân quả đảo chiều, đó là một kiến giải quan trọng mà ngày nay không còn nhiều người lưu tâm. Ai cũng biết hệ trống Breton Woods có sự tham gia xây dựng của Cairns là chế độ tỷ giá cố định, Cairns đã hi vọng tỷ giá sẽ là cố định. Sau này, Friedman tiếp nhận lý luận thời kỳ đầu của Cairns, mở rộng và tuyên truyền nó theo hướng nhấn mạnh thả nổi tỷ giá, cho rằng tỷ giá thả nổi có thể chống đỡ sự tấn công hoặc thâm nhập của lạm phát bên ngoài thậm chí có thể giúp xoá bỏ lạm phát tận gốc rễ. Bởi Friedman cho rằng: nếu tất cả các nước trên thế giới cùng thả nổi tỷ giá sẽ không còn cần tới dự trữ ngoại tệ và nhờ đó xáo bỏ đi suối nguồn tăng trưởng của lượng cung ứng tiền tệ cơ sở toàn cầu. Nhưng sự thực dự trữ ngoại tệ toàn cầu phát triển trong 40 năm qua đã chứng minh Friedman đã sai lầm. Ngày nay, lạm phát toàn cầu đang diễn ra một lần nữa chứng minh lý luận tỷ giá tiêu chuẩn không còn chuẩn xác.

Đặc trưng thứ 5: lạm phát xuất hiện ở cả những nước thâm hụt ngân sách và những nước thặng dư ngân sách.

Kinh tế học thông thường cho rằng: một quốc gia có thặng dư ngân sách và không có biến động về in tiền thì có thể khống chế được lạm phát. Ngược lại, một quốc gia có ngân sách thâm hụt sẽ luôn đi kèm với lạm phát. Các nước đang phát triển càng đúng như vậy, ngân hàng trung ương của họ không độc lập và thường phải tăng lượng in tiền để bù đắp vào những khoản bội chi. Thế nhưng, tình hình ngày nay đã không còn là như vậy: các nước như Trung Quốc hay Nga đều có thặng dư ngân sách trong đó thặng dư ngân sách của Nga khá khả quan (chiếm 8,8% GDP) nhưng lạm phát vẫn nghiêm trọng. Tất nhiên, cũng là lẽ thường khi các nước đang phát triển lại có thâm hụt ngân sách phải đối mặt với lạm phát nghiêm trọng.

Năm đặc trưng nêu trên có phải là những đặc trưng quan trọng chưa từng xảy ra hay không, còn phải chờ tranh luận. Nhưng dù sao, năm hiện tượng của lần lạm phát toàn cầu này cũng đang đòi hỏi những nghiên cứu và tìm hiểu hết sức thận trọng.

Tường Châu theo nhật báo Tài chính hàng đầu

(Theo VIETTIMES )

http://60s.com.vn/index/1640236/30082008.aspx

—————————-

Tìm hiểu thêm:

Đồng tiền của bất cứ quốc gia nào cũng đều có thể trở thành một ngoại tệ mạnh

Vấn đề cốt lõi của lạm phát không phải là do nhập siêu, xuất siêu hay do năng lực sản xuất quốc gia yếu kém

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: