Ngocngoctan chào các bạn

Just another WordPress.com weblog

Lãi suất tiền gửi thấp hơn lạm phát gây sức ép lên tỷ giá và giá cả hàng hóa

Posted by ngocngoctan on 16/10/2011



Lãi suất tiền gửi thấp hơn lạm phát gây sức ép lên tỷ giá và giá cả hàng hóa

Ngày 14.10.2011, 07:53 (GMT+7)

 Nhiều áp lực khi tiền không vào ngân hàng

SGTT.VN – Từ tháng 9 – tháng áp dụng trần lãi suất huy động – huy động và cho vay trên toàn hệ thống ngân hàng đều giảm làm gia tăng mối lo thanh khoản, đẩy lãi suất liên ngân hàng lên cao. Áp lực lên thị trường ngoại hối cũng xuất hiện sớm hơn dự báo, một phần do chịu sức ép từ thị trường vàng.

Lãi suất tiền gửi 14% chưa đủ hấp dẫn để người dân gửi tiền vào ngân hàng. Ảnh: Lê Quang Nhật

Trong khi giá USD trên thị trường tự do có xu hướng giảm, thị trường liên ngân hàng diễn biến ngược lại khi giá mua bán, doanh số vay mượn và lãi suất đều tăng.

Áp lực thanh khoản

Tổng giám đốc Eximbank Trương Văn Phước, cho biết, trong vòng một tháng trở lại đây, lượng vốn ngân hàng huy động được giảm khoảng 2% so với tháng trước. Lượng vốn cho vay ra cũng giảm mức tương đương. Tính từ tháng 7 đến tháng 9 vừa qua, lượng tiền tiết kiệm gửi vào Eximbank đã giảm tới gần 4.000 tỉ đồng, trong đó, có những thời điểm, ngân hàng này bị rút ra tới 400 – 500 tỉ đồng chỉ trong một ngày. Dù không cung cấp con số cụ thể, lãnh đạo nhiều ngân hàng đều thừa nhận tình trạng tương tự đang diễn ra trong đơn vị của mình. Và diễn biến này cũng trùng khớp với thông tin về hoạt động ngân hàng trong quý 3 vừa được ngân hàng Nhà nước công bố.

Tháng 9 là thời điểm ngân hàng Nhà nước siết lại kỷ cương trong thực hiện quy định về trần lãi suất huy động, nên hầu hết ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động về mức tối đa 14%/năm, kênh tiết kiệm ngân hàng giảm sức hấp dẫn. Trong khi đó, từ thời điểm giữa tháng 9 đến nay, giá vàng có xu hướng đi xuống, người dân mua vàng nhiều hơn bán ra khiến giá vàng luôn cao hơn giá thế giới ở mức vài triệu đồng/lượng. Nguồn tiền mua vàng được một số lãnh đạo ngân hàng thương mại cho là có phần từ rút tiết kiệm. Cùng với đó, nhu cầu ngoại tệ bắt đầu ấm dần lên, tâm lý mua, nắm giữ USD cũng tăng theo khiến kênh huy động VND của ngân hàng thêm một lần nữa bị chia sẻ.

Ngoài ra, tổng thư ký hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Dương Thu Hương cho rằng, huy động vốn tín dụng những ngày đầu tháng 9 giảm còn do “việc hạch toán lại đúng bản chất của các khoản tiền gửi và cho vay trước đây”. Còn nguyên nhân khiến dư nợ tín dụng cũng giảm, theo ông Trương Văn Phước, là do số lượng doanh nghiệp gặp khó khăn, phải thu hẹp sản xuất, thậm chí ngừng sản xuất, phá sản gia tăng. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất tuy đã giảm, nhưng vẫn là mức cao so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp.

Tháng 9: huy động và cho vay đều giảmTính đến 23.9.2011, tổng số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tăng 9,82% so với cuối năm trước, tuy nhiên lại giảm 1,07% so với cuối tháng trước. Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 8,16% so với cuối năm trước.Tuy nhiên, giảm 0,94% so với tháng trước, trong đó tín dụng bằng VND giảm 0,49%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 2,27%. Tổng phương tiện thanh toán tăng 8,87% tính từ đầu năm đến thời điểm thống kê, song giảm 0,86% trong vòng một tháng gần nhất.Nguồn: ngân hàng Nhà nước

Vốn vào ngân hàng giảm, ngay lập tức đã làm tăng mối lo thanh khoản lên các tổ chức tín dụng, biểu hiện rõ nhất qua sự “nóng” lên của thị trường liên ngân hàng từ giữa tháng 9 đến nay. Trong tuần đầu tháng 10 (từ 3 – 11.10), lãi suất liên ngân hàng đã tăng mạnh lên 14,5 – 15% kỳ hạn qua đêm; 15 – 15,5% đối với kỳ hạn một tuần; 15,5 – 16% đối với kỳ hạn hai tuần và 16 – 17,5% đối với kỳ hạn một tháng, tức cao hơn trần lãi suất huy động từ dân cư. Trong khi đó, tuần cuối cùng của tháng 9, lãi suất bình quân qua đêm chỉ ở mức 12,7%/năm; lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại dao động từ 13,36% đến 13,93%/năm (ngoại trừ lãi suất không kỳ hạn).

Áp lực tỷ giá đến sớm

Áp lực lên tỷ giá đã bắt đầu xuất hiện khi tỷ giá liên ngân hàng hôm qua (13.10) đã tăng lên mức 20.678 đồng/USD (sau năm lần tăng liên tiếp, mỗi lần tăng thêm 10 đồng/USD tính từ ngày 5.10). Các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt điều chỉnh giá USD niêm yết, như tại Vietcombank là 20.880 – 20.885 đồng/USD; tại Eximbank, ACB, giá bán ra thấp hơn 2 đồng/USD… Các ngân hàng đều có xu hướng đẩy giá mua vào tăng lên, thu hẹp khoảng cách giữa giá mua – giá bán. Giao dịch USD trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng cả về doanh số lẫn lãi suất. Cụ thể, tuần cuối tháng 9, doanh số giao dịch USD trên thị trường liên ngân hàng tăng lên 3.014 triệu USD (bình quân 602 triệu USD/ngày), trong khi tuần trước đó chỉ là 2.641 triệu USD (bình quân 528 triệu USD/ngày).

Diễn biến này không nằm ngoài nhận định trước đó của các chuyên gia kinh tế. Bởi đã thành quy luật, nhu cầu ngoại tệ bao giờ cũng tăng mạnh vào thời điểm cuối năm – cùng với sự gia tăng của nhập siêu. Riêng năm nay, thị trường ngoại hối còn chịu thêm áp lực từ việc tín dụng ngoại tệ tăng quá cao. Phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa cung cấp thông tin, chênh lệch cho vay bằng ngoại hối của Việt Nam ở mức 7,5 tỉ USD (tổng vay ngoại tệ là 30 tỉ USD, trong khi huy động ngoại tệ chỉ là 22,5 tỉ USD) – và thời gian đáo hạn của các hợp đồng vay vốn thường dồn vào thời điểm cuối năm. Thêm vào đó, áp lực tỷ giá có phần đến sớm hơn dự báo, bởi cầu ngoại tệ đã tăng mạnh thời gian vừa qua cho nhu cầu nhập khẩu vàng. Nếu như thời điểm giữa năm, các doanh nghiệp đua nhau xuất khẩu vàng thì từ quý 3 đến nay, diễn biến hoàn toàn ngược lại. Cùng với 5 tấn vàng vật chất nhập khẩu trong tháng 8, một tuần qua, các ngân hàng, doanh nghiệp cũng phải mua đối ứng một lượng vàng nhất định trên tài khoản ở nước ngoài để bù vào một lượng vàng đã bán ra theo mục tiêu bình ổn thị trường (thống kê chưa đầy đủ khoảng 10 tấn).

Tình trạng hai tỷ giá lại xuất hiện trong hệ thống ngân hàng. Giám đốc một công ty nhập khẩu máy móc nông nghiệp và thuỷ điện cho biết, doanh nghiệp có khoản vay ngân hàng S. 50.000 USD, đáo hạn vào cuối tháng này. E ngại tỷ giá sẽ tiếp tục tăng, doanh nghiệp quyết định mua USD của ngân hàng để trả nợ sớm, và mức giá được nhân viên ngân hàng thông báo ngày 13.10 là 21.450 đồng/USD, mặc dù giá niêm yết của ngân hàng này chỉ là 20.885 đồng/USD.

Thảo Nguyễn

http://sgtt.vn/Kinh-te/154226/Nhieu-ap-luc-khi-tien-khong-vao-ngan-hang.html

———————————

Tiếp tục điều chỉnh tỷ giá: Khổ vì đa mục tiêu!

NGUYỄN HOÀI

12/10/2011 13:04 (GMT+7)

picture
Không thể phủ nhận rằng, Ngân hàng Nhà nước đang điều hành tỷ giá khá bài bản và rõ ràng, ít giật cục so với trước.

Ngày 11/10, Ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 20.668 VND/USD từ mốc 20.653 VND/USD.

Mục tiêu phá giá 1% có bị phá vỡ?

Trong vòng một ngày, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá cặp tiền VND/USD tăng thêm 15 VND đối với mỗi USD. Đó được coi là mức điều chỉnh khá cao.

Một câu hỏi đặt ra, liệu mức nới tỷ giá này có phá vỡ tuyên bố “Từ nay đến hết năm, nếu cần, chỉ điều chỉnh tỷ giá không quá 1%” của Thống đốc tại cuộc họp toàn ngành ngày 7/9/2011? Hôm đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 20.628 VND/USD và so với ngày 11/10/2011 (20.628 VND/USD với 20.668 VND/USD) tỷ giá đã biến động: 0,193%, chưa đầy 0,2%.

Phản  ứng trước thông tin này, có ý kiến trong giới phân tích cho rằng, đó là điều nên làm bởi sức ép cầu USD hiện tương đối lớn do tác động từ thị trường vàng và áp lực trả nợ ngoại tệ của doanh nghiệp vào dịp cuối năm bắt đầu. Vì thế, cho tỷ giá chạy là điều cần thiết và hợp lý trong lúc này.

Cán bộ kinh doanh ngoại tệ một ngân hàng phân tích: thực ra, trong một ngày, Ngân hàng Nhà nước có thể cho VND yếu thêm so với USD từ 20 – 30 đồng/USD, đẩy tỷ giá niêm yết trần lên 21.000 VND/USD hoặc 21.100 VND/USD là chuyện bình thường, nếu nhu cầu hiện tại đang cao hơn nguồn cung. Làm như vậy, các nguồn cung sẽ tăng cường bán ra, giải tỏa căng thẳng cho tỷ giá.

“Sự biến động này không lớn. Ngày hôm nay, Ngân hàng Nhà nước tăng 15 đồng/USD, không có nghĩa ngày hôm sau, Ngân hàng Nhà nước cũng làm thế mà có thể giảm xuống 30 VND/USD, nếu cung cầu thị trường cho phép”, ông này nói.

Hơn nữa, việc cam kết chỉ điều chỉnh tỷ giá  thêm 1% từ nay đến hết năm là thể hiện sự kiên định một mục tiêu điều hành. Sự  kiên định này trước hết, góp phần ổn định tâm lý thị trường, giảm kỳ vọng tăng tỷ giá trong dân chúng; mặt khác, nhờ đó, doanh nghiệp sẽ hoạch định trước kế hoạch sản xuất kinh doanh, không để sự biến động của tỷ giá làm đảo lộn mọi sắp đặt.

Và điều quan trọng là để đưa ra “mục tiêu 1%” nói trên, Ngân hàng Nhà nước đã dựa trên nhiều thông số khác nhau: trong 7 tháng đầu năm, cán cân vãng lai thặng dư 1,3 tỷ USD trong khi so với cùng kỳ thâm hụt 3,2 tỷ USD; cán cân vốn và tài chính thặng dư 9,8 tỷ USD, tăng gấp 2 lần mức thặng dư 4,57 tỷ USD so với cùng kỳ 2010.

Đặc biệt, trước nỗi lo cân đối nguồn ngoại tệ các ngân hàng đã vượt quá 100% và phần vượt lên chủ yếu do vay nợ nước ngoài, điều này khiến nhiều ngân hàng đứng trước nguy cơ bị áp lực thanh khoản ngoại tệ đè nặng khi khoản nợ đến hạn. Nhưng thực tế, luồng ngoại tệ chu chuyển qua hệ thống ngân hàng đang hoạt động khá lành mạnh.

Tính đến tháng 9/2011, phần thu ngoại tệ (809 triệu USD) vẫn lớn hơn phần chi ngoại tệ trả nợ (745 triệu USD) và trạng thái đạt dương 64 triệu USD. Còn tính đến 29/9/2011, tiền gửi ngoại tệ của TCTD tại Ngân hàng Nhà nước tăng 45,1% so với cuối tháng 8/2011, tương đương với mức tăng thêm 586 triệu USD.

Yên đằng Đông, động đằng Tây!

Không thể phủ nhận rằng, Ngân hàng Nhà nước đang điều hành tỷ giá khá bài bản và rõ ràng, ít giật cục so với trước. Nhưng trong đó, vẫn nổi lên hai vấn đề đáng chú ý mà đầu tiên là sự pha trộn quá nhiều mục tiêu trong cùng một chính sách.

Trước hết, trong một thời gian dài, Ngân hàng Nhà nước để cho thị trường vàng bị lũng đoạn, giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới những 3 – 4 triệu đồng/lượng. Khoảng hai tháng gần đây, vàng lên cơn sốt hai đợt nhưng Ngân hàng Nhà nước chỉ dập tắt được một nhờ vào quyết định mở quota cho nhập vàng.

Nhưng đến đợt sốt thứ hai cách đó ít lâu, Ngân hàng Nhà nước cũng cấp quota nhưng bị “nhờn thuốc” và dai dẳng cho đến nay. Vàng sốt đã kéo theo tỷ giá bị leo thang, nhất là ở thị trường tự do.

Hiện nay, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để ổn định thị  trường vàng như cho phép 8 đầu mối bán vàng ra thị  trường và mở tài khoản vàng để cân đối trạng thái vàng trong hệ thống. Những đơn vị này sau khi bán vàng vật chất huy động thì nhu cầu mua USD tăng thêm để mua vàng tài khoản, cân đối trạng thái. Hai hoạt động này giúp họ phòng ngừa rủi ro giá vàng nhưng bên cạnh đó, họ còn cần thêm một lượng ngoại tệ để bảo hiểm tỷ giá USD biến động theo chiều hướng tăng.

Dù muốn hay không, vàng trở thành nhân tố quấy rối mọi nỗ lực bình ổn tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Yếu tố tiếp theo là lãi suất. Khi Ngân hàng Nhà nước dẹp loạn lãi suất, đè lãi suất tiền gửi VND còn 14%/năm thì một tác động khó tránh là phản ứng ngược lên tỷ giá. Về lý thuyết, khi lãi suất VND tăng, tỷ giá sẽ giảm. Ngược lại, khi nền lãi suất hạ xuống còn 14%/năm, lập tức thị trường xuất hiện xu hướng nắm giữ USD.

Điều này không có gì khó hiểu vì trước thời điểm 7/9 (ngày Ngân hàng Nhà nước tái tuyên bố lập lại trần lãi suất tiền gửi 14%/năm), hầu hết ngân hàng đều tung tăng huy động 18% – 19%/năm, người dân và tổ chức bán ngoại tệ, lấy VND gửi ngân hàng hưởng lãi suất cao nhưng nay, lợi thế đó không còn nên họ quay sang nắm giữ ngoại tệ là tất nhiên.

Mấu chốt ở đây, Ngân hàng Nhà nước phải hành động sao đó để người dân hướng đến VND; ngược lại, người dân sẽ còn mua USD hoặc vàng để bảo toàn giá trị tài sản. Tuy nhiên, muốn ổn định giá trị VND thì điều kiện cơ bản là lạm phát phải hạ nhiệt. Có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đang gặp may vì biểu đồ CPI những tháng gần đây đang đi xuống, giá lương thực, thực phẩm (rau, thịt…) đang lao dốc.

Như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước không đơn thuần chỉ tính toán sự ra vào của dòng ngoại tệ trong nền kinh tế, mà còn chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác như nói trên.

Thứ hai là vấn đề ổn định tâm lý. Muốn  ổn định tâm lý thị trường thì đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước phải minh bạch hơn những gì đang có. Ví dụ, tại thời điểm này, thị trường đang băn khoăn rằng, cho các đầu mối mở vàng tài khoản thì nhu cầu ngoại tệ để họ cân bằng trạng thái được lượng hóa là bao nhiêu? Tại sao Ngân hàng Nhà nước không tính toán cụ thể và công bố rõ ràng để tránh những đồn đoán không cần thiết?

Mặt khác, để ổn định tâm lý thì thời gian qua, công tác thông tin tuyên truyền của Ngân hàng Nhà nước thực sự chưa chú trọng. Đáng lẽ, quan điểm của nhà điều hành gửi đến công chúng phải được tích hợp thông qua đa phương tiện để mọi tầng lớp nhân dân thấu hiểu và chia sẻ. Nhưng thực tế, thông điệp của Ngân hàng Nhà nước chỉ xuất hiện trên cổng thông tin nội bộ và lẻ tẻ trên một vài tờ báo. Bởi vậy, trong 10 ngày gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả các bài phân tích của các chuyên gia trong giới, đã có những nghi ngờ về khả năng điều chỉnh tỷ giá không quá 1% từ nay đến hết năm của Ngân hàng Nhà nước, thay vì xu hướng tin tưởng lời dự báo của Thống đốc là hiện thực.

————————————–

Sức khỏe nền kinh tế, nhìn từ một con số “lạ”

ANH QUÂN
12/10/2011 15:18 (GMT+7)

picture
Ông Phạm Đình Thúy: “Tình hình trước mắt sản xuất công nghiệp sẽ còn khó khăn nhất định” – Ảnh: Anh Quân.

Báo cáo 9 tháng năm 2011 của Tổng cục Thống kê xuất hiện một con số “lạ”. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/9/2011 giảm mạnh, lên tới 5,5% so với cùng kỳ năm trước, và so với cách đó một tháng thì thậm chí giảm tới 17,1%.

“Chỉ số tồn kho gần đây đã thể hiện những thăng trầm, thiếu ổn định của nền kinh tế”, Vụ trưởng Vụ Thống kê công nghiệp (Tổng cục Thống kê), Phạm Đình Thúy nói với VnEconomy.

“Từ khi Tổng cục Thống kê công bố chỉ số tồn kho đến giờ, đây là lần đầu tiên có hiện tượng giảm so với cùng kỳ”, ông Thúy cho hay.

Qua theo dõi số liệu về chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mấy năm nay, điểm đáng chú ý là đang có những diễn biến hết sức bất thường, có khi tăng gần 40% so với cùng kỳ, nay thì lại giảm. Điều này cho thấy đang có những áp lực gì đối với sản xuất và nền kinh tế, thưa ông?

Về nguyên tắc, tồn kho luôn tăng theo quy mô sản xuất mở rộng để đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa sản xuất và tồn kho, đồng thời là ổn định cung cầu giai đoạn sau đó. Nó phải có tính “gối đầu” như vậy.

Với một nền sản xuất bình thường vào thời điểm hiện nay, chỉ số tồn kho tăng khoảng 12-15% so với cùng kỳ là vừa.

Trường hợp tồn kho tăng cao, hay giảm thấp đều là không tốt, bất thường đối với nền kinh tế. Nếu tăng cao thì có nguy cơ đình trệ sản xuất. Nếu thấp thì có hai vấn đề: một là khó đảm bảo cân đối cung cầu liên tục; hai là báo hiệu một số ngành công nghiệp có thể có hiện tượng doanh nghiệp phá sản, rút vốn, hay phải chuyển đổi lĩnh vực sản xuất…

Như giải thích của ông, với chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo  giảm 5,5% so với cùng kỳ tại thời điểm 1/9/2011 sẽ tác động lớn đến sản xuất của doanh nghiệp, sau đó là tăng trưởng công nghiệp thời gian tới có thể bị ảnh hưởng?

Có khả năng hiện tượng đó xảy ra.

Chỉ số tồn kho gần đây đã thể hiện những thăng trầm, thiếu ổn định của nền kinh tế. Cụ thể là số liệu về doanh nghiệp giải thể, phá sản… cũng cho thấy đã tăng hơn năm trước.

Ví dụ như theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã có 48,7 nghìn doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong 9 tháng năm nay, thì các doanh nghiệp này phải có chuyện bán tài sản, thanh lý nhanh hàng hóa tồn đọng, chấp nhận lỗ… tác động làm giảm tồn kho.

Cũng có nguyên nhân những doanh nghiệp khó khăn, tồn kho lâu, nay muốn chuyển ngành nghề khác thì cũng phải giải tán tồn kho để thu hồi vốn. Thì những diễn biến đó làm cho chỉ số tồn kho giảm.

Nhưng nhiều báo cáo gần đây vẫn nhìn nhận, công nghiệp tăng trưởng khá, thưa ông?

Với tình hình hiện nay, tăng trưởng công nghiệp vẫn khá nhất so với các ngành khác. Cụ thể là cao nhất so với các ngành dịch vụ và nông nghiệp. Nhưng sản xuất công nghiệp, theo con số thống kê của chúng tôi, cũng có những khó khăn.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2010 so với 2009 tăng 9,3%, trong khi đó 9 tháng năm nay so với cùng kỳ chỉ tăng có 7,8%. Tức là, công nghiệp cũng khó khăn hơn so với năm ngoái. Hay so với con số của 9 tháng năm ngoái là 8,8% thì năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp đã thấp hơn 1 điểm phần trăm.

Theo dõi dữ liệu chỉ số này từ trước tới này, mức thấp hơn 1 điểm phần trăm cũng là tương đối chứ không phải ít.

Nếu phân tích theo tình hình sản xuất như thế, năm 2009 là tác động khủng hoảng lên sản xuất rất lớn, năm 2010 đã phục hồi được một phần, nhưng năm nay lại rơi vào tình trạng khó khăn hơn.

Nhưng điểm chú ý là trong khi chỉ số sản xuất công nghiệp giảm và tăng thấp mấy tháng gần đây, riêng công nghiệp chế biến, chế tạo lại ít ảnh hưởng. Cụ thể là giảm trong tháng 7 nhưng sau đó tăng trở lại ngay.

Có thể hiểu là những khó khăn về giá đầu vào sản xuất tăng cao hơn giá bán đầu ra, hay tiêu thụ không tăng tương ứng năng lực sản xuất… chỉ tác động mạnh đến một số ngành, còn số khác thì ít bị ảnh hưởng?

Với các ngành công nghiệp cấp 1 (bao gồm khai thác mỏ, sản xuất và phân phối điện, gas, nước – PV), chỉ số sản xuất ngành khai thác mỏ thường là thấp, nhưng riêng năm 2009 so với 2008 rất cao vì năm ấy chúng ta đẩy mạnh khai thác dầu thô để hỗ trợ tăng trưởng cho nền kinh tế. Đến năm 2010 bắt đầu giảm và sang năm nay thì tiếp tục giảm.

Trong phân tích của chúng tôi, khai thác mỏ – chủ yếu là dầu thô và than đá – những năm nền kinh tế khó khăn, Chính phủ kỳ vọng ngành khai thác mỏ cứu cánh cho ngành công nghiệp Việt Nam nên đẩy mạnh công suất khai thác, thì nó cao. Nhưng đến những năm sau đấy, khi các ngành công nghiệp khác phục hồi được thì ngành khai thác chững lại, do trữ lượng các tài nguyên có hạn, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn hơn, đồng thời Chính phủ cũng quản lý chặt, không cho phép khai thác ồ ạt để bảo vệ nguồn tài nguyên của đất nước.

Chỉ số ngành công nghiệp khai thác lâu nay chỉ xoay quanh 97-100% so với cùng kỳ, tức là tăng rất thấp, thậm chí giảm. Rõ ràng, các ngành công nghiệp khác luôn phải gánh cho ngành này, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo do toàn bộ khu vực này chiếm khoảng 27% giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp.

Hay nói cách khác, những năm khủng hoảng, ngành công nghiệp khai thác gánh cho các ngành khác, tăng tới trên 11%. Ngược lại, những năm ổn định thì các ngành khác lại phải gánh cho ngành công nghiệp khai thác. Đó là do chính sách điều hành kinh tế của mình. Điều này cũng cảnh báo ngành khai thác mỏ sắp tới còn giảm.

Cụ thể, tỷ trọng ngành này cũng ngày càng giảm, trước đây thường chiếm khoảng 12% giá trị sản xuất thì nay chỉ khoảng 5-6%. Một cảnh báo là sản xuất ngành này đang dần đi xuống.

Vì sản lượng ngành khai thác mỏ không dễ tăng thêm được, kể cả dầu và than điều kiện khai thác đều ngày càng khó khăn hơn, chỉ trông chờ vào những mỏ mới để tăng sản lượng nhưng cũng khó khăn lắm. Đây là điều trông thấy trước mắt.

Tiếp theo là ngành điện, rõ ràng ngành này đang có những hạn chế hơn về tăng trưởng sản lượng. Những năm trước, sản lượng điện lúc nào cũng tăng so với cùng kỳ xoay quanh khoảng 14%, nhưng 9 tháng đầu năm nay chỉ còn tăng dưới 10%. Tức là đã giảm mức tăng cỡ gần 1/3 rồi.

Nguyên nhân tăng thấp hơn mọi năm chủ yếu vì những khó khăn trong đầu tư, vì xây dựng được một nhà máy điện là rất lâu, nhất là thủy điện. Gần đây nhất là đưa vào hoạt động được thủy điện Sơn La, còn chủ yếu là nhiệt điện chạy than ở Quảng Ninh, một số nhà máy nhiệt điện chạy gas của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Hai nữa, vừa qua do những khó khăn về kinh tế nên những nhà máy điện không được cung cấp đủ vốn để đầu tư, cũng ảnh hưởng đến tiến độ. Số nhà máy mới đưa vào phát điện chậm, không đảm bảo đúng như kế hoạch.

Với khu vực công nghiệp chế biến, chiếm đến gần 90% giá trị sản xuất toàn ngành nhưng do chủ yếu là gia công, tỷ lệ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào lớn nên giá trị tăng thêm chỉ chiếm khoảng trên 60%.

Đây là khu vực quyết định phần lớn tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp thì năm nay tốc độ tăng trưởng cũng giảm so với năm ngoái. Chỉ số sản xuất ngành này 9 tháng năm nay tăng 10,6% so với cùng kỳ thì năm ngoái tăng tương ứng 11,7%. Tức là có khó khăn hơn năm ngoái nhưng ít chịu tác động hơn hai ngành kia.

Theo dõi con số ước của Tổng cục Thống kê về chỉ số sản xuất công nghiệp, nhiều tháng lúc đầu ước tính thực hiện cao, nhưng thực tế thực hiện lại thấp hơn. Cụ thể là tháng 6 và 7 đều giảm so với tháng trước. Ở đây có gì cần lưu ý?

Chỉ số sản xuất công nghiệp của Tổng cục Thống kê tập hợp từ báo cáo của các doanh nghiệp lên, trong đó tháng sau cùng là ước tính của doanh nghiệp.

Nhìn chung các tháng trong quí II, từ khoảng tháng 4-6/2011, các doanh nghiệp kì vọng tăng trưởng công nghiệp còn cao nên thể hiện trên con số ước tính rất khả quan. Nhưng trong khoảng 3 tháng gần đây, con số ước tính từ doanh nghiệp bắt đầu giảm, cho thấy kỳ vọng của doanh nghiệp không còn lạc quan như trước.

Tháng 6, con số ước chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,7%, giảm xuống 8,8% trong tháng 7, rồi hiện tại là 7,8%. Tức là nó cứ giảm liên tục như vậy. Trong khi đó, thực tế sản xuất cũng không được như kỳ vọng của doanh nghiệp, quý 3 tình hình còn khó khăn hơn quý 2.

Đó cũng là cảnh báo cho thấy tình hình trước mắt sản xuất công nghiệp sẽ còn khó khăn nhất định.

————————————-
 
Update: 31/10/2011
 
 Huy động vốn ở các NHTM giảm mạnh

Tính từ ngày 7-9 đến giữa tháng 10, vốn huy động của 16 NHTM giảm khoảng 43.000 tỉ đồng. Trong đó tiền gửi tiết kiệm của người dân giảm 32.575 tỉ đồng.

Ông NGUYỄN NGỌC THẮNG, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM

http://phapluattp.vn/20111030100940670p0c1014/sat-nhap-ngan-hang-de-xu-ly-thua-lo.htm

 ——————————–

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: